Bạn đang ở: Home » Tìm hiểu bệnh » Bệnh chuyển hóa » Bệnh Gút (Gout) » Bệnh gout (bệnh gút): Những điều cần biết

Bệnh gout (bệnh gút): Những điều cần biết

Bệnh gout là bệnh của rối loạn chuyển hóa đạm dẫn đến tăng nồng độ acid uric trong máu kết hợp với một số điều kiện như pH, nhiệt độ, nồng độ Natri,… kết tủa thành các vi tinh thể urate natri dạng hình kim bám ở các đầu khớp và một số mô trong cơ thể.

benh gout benh gut nhung dieu can biet benh gout

Bàn tay của một người bị bệnh gout (bệnh gút)

Bệnh gout đặc trưng bởi những những cơn đau gout cấp với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội và các biến chứng như thoái hóa khớp, cứng khớp (hạn chế vận động, không thể cử động) một hoặc nhiều khớp. Bệnh gout thường gặp ở những người đàn ông hay ăn nhậu, ăn nhiều đồ ăn nhiều đạm, bệnh nhân suy thận, vẩy nến, lao… và ở phụ nữ sau mãn kinh. Nếu không điều trị sớm, bệnh gout sẽ tiến triển ngày càng nặng và dần hủy hoại cơ thể người bệnh đến tàn phế, biến dạng về hình thể và có thể dẫn đến tử vong.

Lịch sử bệnh gout

Lịch sử bệnh gout đã hơn 4000 năm, nhưng đến khoảng 400 năm trước công nguyên, Hyppocrates là người đầu tiên mô tả rõ một biểu hiện rất đặc trưng của bệnh là sưng tấy, nóng, đỏ và rất đau ở ngón chân cái (Podagra), ông còn gọi bệnh Gout là “Vua của các bệnh” và “bệnh của các Vua” (“King of Diseases” and “Disease of Kings”).

Thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, Dược sỹ Claudius Galen cũng là người có vai trò lớn trong lịch sử bệnh gout. Ông đã tìm mối liên hệ chế độ ăn uống và bệnh gout, và nhận thấy bệnh xuất hiện chủ yếu nam giới trung niên, đối với phụ nữ chỉ xuất hiện khi về già.

Thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, Alexander of Tralles đã sử dụng colchicin để giảm đau các viêm khớp. Ở thời kỳ này, mặc dù thông tin y học còn hạn chế nhưng người Hi lạp đã đưa ra phương pháp chuẩn đoán và đưa ra phương thức điều trị bệnh gout.

Antoni Van Leeuwenhoek (1632–1723), một trong nhiều khoa học gia khám phá ra kính hiển vi, và ông là người đầu tiên quan sát hình dạng của các tinh thể ở khớp sưng trong các cơn gout cấp, nhưng thành phần hóa chất trong tinh thể đó, ông vẫn chưa tìm ra.

Năm 1683, Sydenham mới mô tả đầy đủ diễn biến lâm sàng của cơn gout cấp, và đến cuối thế kỷ XIX, Schelle, Bargman và Wollaston mới tìm thấy vai trò của acid uric trong nguyên nhân gây bệnh, do đó bệnh gout còn được gọi là viêm khớp do acid uric. Phát hiện ra vai trò của acid uric trong bệnh gout có ý nghĩa to lớn trong chuẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh gout.

Và hơn 4000 năm sau kể từ khi bệnh gout được phát hiện, nhà khoa học người Đức Emil Fischer đã chứng minh acid uric được tạo thành từ nguồn nội sinh trong cơ thể. Đó chính là purin. Nhờ phát hiện điều này, ông đã được nhận giải Nobel danh giá.

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về sinh học tế bào, cơ chế sinh lý bệnh của tình trạng tăng acid uric máu và bệnh gout, vai trò quan trọng của tinh thể urate, tìm ra các nhóm thuốc điều trị bệnh dựa vào nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh cụ thể, nên hiệu quả điều trị đã tăng rõ rệt. Kiểm soát tốt cơn gout cấp, ngăn ngừa các cơn viêm khớp tái phát, hạn chế biến chứng sỏi thận và các bệnh lý về thận.

Trải qua hơn 4000 năm, với sự đóng góp của nhiều nhà khoa học, điều trị bệnh gout đã có nhiều tiến bộ. Bệnh nhân gout đã kiểm soát được các cơn gout cấp, ngăn ngừa bệnh viêm khớp mãn tính, làm giảm hạt tophi, giảm biến chứng do gout và tăng tuổi thọ. Tuy nhiên khái niệm chữa khỏi bệnh gout vẫn chưa được đưa ra.

Nguyên nhân gây bệnh gout

Có thể nói nguyên nhân của bệnh gout là do cơ thể sản sinh quá nhiều axit uric trong khi lượng axit uric được đào thải ra ngoài quá ít làm cho nồng độ axit uric trong máu tăng cao. Khi nồng độ axit uric cao trong một thời gian dài và gặp một số điều kiện kết tủa thích hợp như độ pH, nhiệt độ, nồng độ Natri,… axit uric sẽ kết tủa thành tinh thể urate natri dạng hình kim. Thông thường, nồng độ axit uric được gọi là cao khi có giá trị là trên 420 μmol/L (7.0 mg/dl) ở nam và 380 μmol/L (6.0 mg/dl) ở nữ.

Nói như vậy không có nghĩa là axit uric là chất có hại cho cơ thể, ngược lại axit uric đóng một vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Bình thường axit uric tham gia vào quá trình chống oxy hóa cho cơ thể và kích thích tế bào não hoạt động giúp con người có thể lực và trí lực khỏe mạnh. Chỉ khi nào nồng độ axit uric trong máu tăng hơn mức bình thường trong một thời gian dài gặp điều kiện kết tủa thích hợp và kết tủa thành tinh thể muối urate natri dạng hình kim ở các khớp và các mô trong cơ thể thì mới gây bệnh gout, mới gây hại.

– Nguyên nhân gây bệnh gout từ sinh hoạt, lối sống:

 * Chế độ ăn nhiều đạm: thịt đỏ, nội tạng động vật, sô cô la, ca cao, hải sản,…

 * Uống rượu, nhất là bia, từ mức trung bình đến rất nhiều (trên 2 ly/ngày đối với nam, 1 ly đối với nữ)

 * Béo phì.

– Nguyên nhân gây bệnh gout từ sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh:

 * Trị liệu làm tế bào chết nhanh chóng (ví dụ, xạ trị điều trị ung thư).

 * Thường dùng aspirin hay niacin (1-2 viên/ngày).

 * Thuốc làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể (như thuốc xổ tiểu làm giảm huyết áp).

 * Thuốc khống chế hệ miễn nhiễm như cyclosporine, dùng để ngăn cơ thể không phản ứng với 1 bộ phận ghép.

Nguyên nhân gây bệnh gout từ các bệnh khác hay các tình trạng sức khỏe:

 * Bệnh gout bẩm sinh: sinh ra với tình trạng khiếm khuyết về gene, không thể kiểm soát được nồng đọ acid uric trong máu nên những người này từ nhỏ đã bị bệnh gout. Những người này bị hội chứng Kelley-Seegmiller hay Lesch-Nyhan bị thiểu năng 1 phần hay toàn phần trong 1 phân hóa tố giúp kiểm soát mức axit uric.

 * Nhiễm độc chì.

* Những điều kiện gây ra mức sản sinh tế bào bất thường như: psoriasis, multiple myeloma, hemolytic anemia, hay ung bướu.

* Suy thận.

* Cao huyết áp.

* Thiểu năng tuyến giáp.

 * Sút cân nhanh, như ở các bệnh nhân trong bệnh viện thay đổi chế độ ăn hay thuốc uống.

 * Bệnh thận mạn tính.

Những triệu chứng, biểu hiện của bẹnh gout:

Bệnh gout thường phát ra sau 1 số năm tích tụ tinh thể axit uric trong khớp và các mô bao quanh. Triệu chứng bao gồm: nóng, đau, sưng, và rất mềm ở 1 khớp, thường là 1 ngón chân cái. Triệu chứng này gọi là podagra.

Cơn đau bắt đầu trong đêm và nhiều đến mức chỉ cần tấm drap trải giường chạm nhẹ vào cũng đau không chịu nổi.

Sự khó chịu tăng nhanh, kéo dài mấy giờ trong đêm rồi giảm trong 2-7 ngày sau đó.

Khi cơn gout giảm, lớp da quanh khớp bị đau có thể tróc ra hay ngứa.

Các triệu chứng khác có thể gồm:

– Da rất đỏ hay hơi tím quanh khớp bị đau, có vẻ bị nhiễm trùng.

– Sốt

– Cử động khớp hạn chế

Triệu chứng gout thay đổi.

– Triệu chứng có thể có sau 1 cơn bệnh hay giải phẫu

– Một số người có thể không bị gout với những cơn đau mà là gout mãn tính. Gout mãn tính ở những người lớn tuổi có thể ít đau hơn và có thể bị nhầm với các loại viêm khớp khác.

– Bệnh gout có thể xuất hiện như những cục trên bàn tay, khuỷu tay, hay tai. Có thể không có những triệu chứng thông thường.

Đến lúc bạn thấy những triệu chứng của gout, thì axit uric đã tích tụ trong máu, và kết tủa axit uric đã có trong 1 hay nhiều khớp từ trước đó một thời gian lâu rồi.

Ngón chân cái thường bị nhất; tuy nhiên, khớp bàn chân, mắt cá, đầu gối, cổ tay, ngón tay, và khuỷu tay cũng có thể bị. Sưng túi dịch đệm các cơ có thể thấy, nhất là ở khuỷu tay và đầu gối.

Những cơn đau nhẹ có thể ngưng sau vài giờ hay kéo dài 1-2 ngày. Những cơn đau này thường bị chẩn đoán sai là “bong gân” dù rằng không bị tổn thương nặng hay vận động quá nhiều.

Cơn đau nặng có thể kéo dài đến nhiều tuần, đau có thể đến cả tháng.

Đa số những người bị cơn đau thứ nhì trong vòng 6 tháng đến 2 năm sau lần thứ nhất, nhưng khoảng cách giữa những cơn đau có thể là nhiều năm. Nếu không chữa trị, khoảng cách sẽ giảmtheo thời gian. Tuy nhiên, một số người không bao giờ bị đau lần 2.

Bệnh gout có 4 giai đoạn:

– Giai đoạn 1: Tăng axit uric máu không triệu chứng, chưa có cơn đau gút cấp.

– Giai đoạn 2: Viêm khớp cấp tính – xuất hiện cơn đau gút cấp đầu tiên.

Các tinh thể axit uric bắt đầu tích tụ trong chất dịch ở khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và cơ thể phản ứng sưng đột ngột: đó là cơn đau gout.

Khoảng 10-25% người bị gout sẽ bị sỏi thận.

Khoảng 10-40% người bị gout có sỏi thận trước khi bị cơn đau khớp.

Sau cơn đau, khớp bị đau và các mô xung quanh cảm thấy bình thường trong vòng vài ngày cho đến khi bị lần tiếp theo, thường xảy ra trong vòng 2 năm.

– Giai đoạn 3: Bệnh gout mạn tính chưa có tophi, đau cách khoảng

Nếu bạn đã từng bị cơn đau gout, bạn rất có thể bị 1 cơn nữa.

Ở bệnh này, bạn không thấy triệu chứng trong thời gian giữa 2 lần đau.

Ở nhiều người, giai đoạn này tiến triển chậm khi các cơn đau xảy ra thường hơn. Những cơn sau có thể đau hơn, lâu hơn, và ở nhiều khớp hơn.

– Giai đoạn 4: Bệnh gút mạn tính có tophi – Tổn thương khớp

Nếu triệu chứng gout tái đi tái lại mà không điều trị trong 10 năm hay lâu hơn, chúng có thể trở thành mãn tính và thường tấn công nhiều khớp hơn. Có thể không còn khoảng cách giữa các cơn đau. Giai đoạn này thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp.

Đến lúc này, đã đủ tinh thể axit uric tích tụ trong cơ thể để tạo thành những cục trông giống phấn bảng gọi là tophi. Khi ở dưới da, những cục này thường cứng và chạy tới chạy lui. Lớp da trên đó có thể mỏng và đỏ. Những cục tophi sát da có thể có màu kem hay vàng.

Ban đầu, các cục tophi thường thấy ở hay gần khuỷu tay, trên ngón tay, ngón chân, hay trên vành ngoài của tai.

Nếu tình trạng cứ tiến triển mà không chữa trị, cục tophi có thể xuất hiện ở lớp sụn của tai hay các mô quanh khớp (túi dịch, dây chằng và gân), gây đau đớn, sưng, đỏ, nóng (viêm). Có thể tàn tật, cũng như sụn và xương bị hủy hoại.

Những gì làm tăng nguy cơ bị bệnh?

Những yếu tố dưới đây (ngoài những gì đã nêu ở phần “nguyên nhân”) có thể hoặc là gây ra đa axit uric hoặc làm khớp dễ bị đóng axit uric:

– Nam (40-50 tuổi); nữ sau mãn kinh

– Tiền sử gia đình bị bệnh gout (nguy cơ 20%)

– Thường bị mất nước

– Tổn thương khớp

– Xơ vữa động mạch

– Bệnh tim mạch

– Suy thận

– Tiểu đường

– Rối loạn chuyển hóa mỡ (tăng cholesterol trong máu)

Chẩn đoán bệnh gout

Kiểm tra & xét nghiệm

Cách duy nhất để chẩn đoán bệnh gout là xét nghiệm chất dịch ở khớp để xem có các tinh thể axit uric không. Tuy nhiên, ở những người bị ngón chân cái sưng cấp tính, đỏ và đau, thì thường khó lấy được dịch khớp.

Những kiểm tra và xét nghiệm sau đây có thể giúp chẩn đoán và điều trị bệnh gout:

– Tiền sử y lý & thể lực

– Xét nghiệm đo mức axit uric trong máu

– Xét nghiệm đo mức axit uric trong nước tiểu

Trong khi chiếu X-quang các đầu chi (bàn tay, bàn chân) đôi khi giúp chẩn đoán ở các giai đoạn cuối, thường thì X-quang không giúp chẩn đoán bệnh gout ở thời kỳ đầu. Ở giai đoạn cuối, các cục tophi hay cả các chỗ xương thoái hóa gần khớp có thể trông thấy. cơn đau gout thường khiến người bệnh đi bác sĩ trước khi những thay đổi lâu dài có thể phát hiện được bằng X-quang. Tuy thế, X-quang có thể giúp loại bỏ các nguyên nhân gây viêm khớp khác.

Cách điều trị

Mục tiêu điều trị gout là giảm đau nhanh và phòng những cơn đau sau này cùng những tiến triển lâu dài, như hỏng khớp và hư thận. Điều trị gồm có thuốc và các bước thực hiện ở nhà để ngăn chặn những cơn đau sau này.

Trị liệu ban đầu

Trị liệu bệnh gout với thuốc nhằm giảm các triệu chứng và các biện pháp lọai bỏ nguyên nhân gây bệnh. Liệu pháp cụ thể còn tùy bạn đang bị cơn đau cấp tính hay đang ngăn ngừa các cơn đau sau.

Để giảm đau, sưng, đỏ, và nóng ở khớp bị đau trong cơn tấn công cấp tính:

– Cho khớp bị đau được nghỉ

– Uống 1 hay nhiều loại thuốc sau đây ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của cơn đau, theo toa bác sĩ:

 * Các loại thuốc chống viêm không có steroid như ibuprofen (như thuốc cảm Advil, Motrin…), naproxen (như Aleve, …) hay indomethacin. Hãy lưu ý rằng những loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ, gồm cả đau bao tử, xuất huyết và loét bao tử. Hơn nữa, các thuốc này có tác dụng nóc – giới hạn của tác dụng giảm đau. Điều này có nghĩa là trên liều lượng tối đa, thì thuốc cũng không có thêm tác dụng giảm đau. Ngoài ra, nên tránh uống aspirin vì nó có thể gây ra thay đổi đột ngột về mức axit uric trong máu và làm bệnh tệ hơn.

* Colchicine

* Corticosteroid (ví dụ như Prednisone)

Mặc dù các loại steroid có thể làm giảm đau rõ rệt, chúng cũng có thể gây ra tác dụng phụ, kể cả loãng xương, chậm lành vết thương và suy giảm hệ miễn dịch. Đôi khi bác sĩ tiêm cortison vào khớp đau. Nhưng cách này vẫn có thể gây ra tác dụng phụ, và tiêm thì không quá 3 mũi một năm.

 * Probenecid, sulfinpyrazone

 * Kích thích tố adrenocorticotropic

Một khi cơn đau cấp tính đã qua, bác sĩ có thể đề nghị trị liệu phòng ngừa để làm chậm lại hay tăng lên tốc độ cơ thể sản sinh ra axit uric.

Điều chỉnh chế độ ăn uống

Vì béo phì có thể liên quan đếnmức axit uric cao, bác sĩ thường chỉ định chế độ ăn uống đặc biệt để giúp giảm / kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nhưng kiêng cữ hay áp dụng chế độ ăn uống quá nghiêm nhặt có thể nâng mức axit uric và làm bệnh gout tệ thêm.

Đa số bệnh nhân gout có thể ăn những gì mình thích, trong giới hạn. Những người bị sỏi thận do axit uric có thể cần tránh hay giới hạn những thực phẩm (có nhiều purin) làm tăng mức axit uric như: cá mòi, cá cơm, cá trích, sò ốc (như: paua, pipi, hến, trai), trứng cá, sò điệp, nước hầm xương, nước sốt (lấy từ lò nướng), óc, cật, gan, tim, lưỡi, bao tử, phèo/lá lách, và thịt đỏ (như thịt bò/cừu; nhất là thịt quay/ nướng); măng tây, nấm, đậu Hòa lan, đậu lentil, và đậu ve. Hầu hết mọi người mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng 150-200g thịt nạc heo/bò, thịt gà, hay cá. Những bệnh nhân gout có thể uống cà phê và trà, nhưng cần phải giới hạn mức cồn (nhất là bia và rượu). Để tống các tinh thể axit uric ra khỏi cơ thể, bệnh nhân gout nên uống mỗi ngày ít nhất 10-12 ly nước lã hay nước giải khát không cồn (loại ly thấp ¼ lít).

Thay đổi loại thuốc trị cao huyết áp, nếu có uống.

Để ngăn ngừa cơn đau tái phát:

Uống những loại thuốc làm giảm mức axit uric trong máu:

– Thuốc giúp thận tăng sự ức chế axit uric: như benzbromarone, probenecid (Benemid), sulfinpyrazone

– Allopurinol làm giảm mức cơ thể sản sinh axit uric

– Colchicines thường được chỉ định để ngừa cơn đau bộc phát trong những tháng đầu bạn dùng thuốc hạ axit uric.

Theo các bước để giảm nguy cơ tái phát:

– Thừa cân là 1 yếu tố dễ mắc bệnh gout. Nếu bạn thừa cân, 1 chế độ ăn ít dầu mỡ có thể giúp bạn giảm cân. Tuy nhiên, các chế độ ăn kiêng quá ít ca-lô-ri lại làm cơ thể tăng lượng axit uric và có thể gây ra cơn đau gout.

– Chất cồn có thể làm thận giảm bài tiết axit uric ra nước tiểu, làm tăng mức axit uric trong cơ thể. Bia, rất giàu chất purin, hình như có hại hơn một số thức uống có cồn khác.

– Các chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (là những thực phẩm giàu purin) có thể làm tăng mức axit uric.

– Một số thuốc có thể được chỉ định cho các bệnh khác lại làm giảm mức thải axit uric của thận. Gồm có các loại thuốc viên giảm muối và nước trong cơ thể, niacin, hoặc thường xuyên dùng aspirin. Trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc khác có cùng hiệu quả nhưng an toàn hơn đối với bệnh gout.

– Theo 1 chương trình thể dục vừa phải.

Đa số bệnh nhân gout sẽ phải uống thuốc giảm axit uric suốt đời. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số người có thể giảm mức axit uric đến bình thường bằng cách kiểm soát trọng lượng của mình, không uống rượu, và tránh dùng 1 số thuốc cho các bệnh khác.

Khi mức axit uric trong máu cao nhưng không có triệu chứng đau, thì trị liệu là không cần thiết ở những người khỏe mạnh. Tuy nhiên, những người có mức axit uric quá cao có thể phải thường xuyên xét nghiệm để xem dấu hiệu tổn thương thận, và cần trị liệu lâu dài để giảm mức axit uric cho đến mức bình thường.

Trị liệu kéo dài

Nếu bạn đã bị 1 cơn đau gout, bạn có nhiều khả năng bị lại, nhất là nếu bạn không dùng thuốc hay các trị liệu khác. Mục tiêu trị liệu là ngăn ngừa các cơn tái phát sau này, giảm mức axit uric, và phát hiện cũng như điều trị các nguyên nhân gây tăng axit uric.

Khi nào phải đến bác sĩ?

Gọi hay đến bác sĩ ngay nếu bạn có những triệu chứng sau:

– Đau dữ dội ở 1 khớp, bộc phát rất nhanh

– Sưng, mềm khớp với lớp da bên trên nóng, đỏ.

Chờ đợi trong cảnh giác

Trong 1 cơn đau gout, bạn có thể làm giảm nhẹ bằng cách uống thuốc chống viêm không có steroid (NSAID), và để khớp đau được nghỉ ngơi, cho đến khi cơn đau chấm dứt. Khăn chườm nóng và nâng bộ phận có khớp đau lên cao có thể giúp bạn cảm thấy đỡ hơn.

Mặc dù aspirin cũng là 1 NSAID, đừng dùng nó khi bị gout.

Bạn nhất thiết phải đến bác sĩ cho dù cơn đau đã qua. Axit uric tích tụ đã gây ra cơn gout có thể vẫn còn tấn công khớp của bạn và cuối cùng có thể làm tổn thương khớp. Bác sĩ có thể cho toa để ngăn ngừa hay đảo ngược mức tích tụ axit uric.

Ngăn ngừa

Không có cách nào đảm bảo ngăn ngừa các cơn gout đầu tiên hay sau đó, nhưng nếu bạn đã bị gout, bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm nguy cơ hoặc mức độ trầm trọng của những cơn tái phát. Thuốc bao gồm allopurinol (như Zyloprim, Aloprim) và probenecid. Uống hàng ngày, chúng có thể làm chậm lại mức sản sinh và tăng mức thải axit uric. Nói chung, giữ cho mức axit uric trong giới hạn trung bình là then chốt về lâu về dài trong việc ngăn chặn gout.

Phòng ngừa và điều trị bệnh gout bằng ăn uống.

Dù điều trị bằng phương pháp nào thì chế độ ăn uống hợp lý luôn có quan trọng nhất, có thể nói ăn uống cũng chính là điều trị bệnh gout. Có nhiều thực phẩm không có hoặc ít có nhân purine và có công dụng tăng cường đào thải acid uric qua đường tiết niệu. Quý bạn đọc có thể tham khảo về hàm lượng purine của các thực phẩm thông dụng  trong bảng sau để có chế độ ăn uống hợp lý nhất.

Bảng hàm lượng Purine trong thực phẩm

Y Dược 365 (TH)

Print Friendly

Ý kiến bạn đọc

Hỏi - đáp (2)

COPYRIGHT © 2009 | 365 Group, VN. All rights reserved | Email: nguoibenhhieubiet@gmail.com |

Scroll to top