Bạn đang ở: Home » Tìm hiểu bệnh » Bệnh chuyển hóa » Bệnh Gút (Gout) » Bị bệnh gút có nên ăn đồ chua, thực phẩm nhiều vitamin C không?

Bị bệnh gút có nên ăn đồ chua, thực phẩm nhiều vitamin C không?

Bị bệnh gút, ngoài việc phải chịu đựng những cơn đau gút cấp khủng khiếp thì người bệnh còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Ngoài chế độ ăn ít đạm, purine thì người bị bệnh gút có cần kiêng không? , thực phẩm giàu có lợi hay có hại cho bệnh gút? Đây là thắc mắc mà nhiều bạn đọc đã gửi tới Y Dược 365 trong thời gian qua.

benh gout benh gut vitamin c benh thong phong

Bị bệnh gút có cần kiêng ăn đồ chua không?

Vitamin C là một vi chất dinh dưỡng thiết yếu tham gia vào một số phản ứng enzyme quan trọng. Nó cũng có tác dụng chống oxy hóa các gốc tự do và các loại phản ứng oxy và nitơ. Vitamin C có nhiều tác dụng như chống cảm lạnh thông thường, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh lão hóa khác.

Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng vitamin C có tác dụng tăng đào thải acid uric, do đó làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh. Tuy nhiên những nghiên cứu này đều thực hiện quy mô nhỏ, trong thời gian ngắn và sử dụng vitamin C liều cao (1 lần uống 3-12 g trong khoảng vài ngày). Nếu có bằng chứng vitamin C giảm nồng độ acid uric trong máu, thì vitamin C có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh gút và các bệnh liên quan đến urat. Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu nào công bố về kết quả trên.

Các nhà khoa học thuộc đại học Johns Hopkins (thường được gọi là Johns Hopkins, JHU, hoặc chỉ đơn giản là Hopkins), một trường đại học nghiên cứu có trụ sở tại Baltimor, bang Maryland, Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu phân tích ảnh hưởng vitamin C tới nồng độ acid uric trong máu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Các nhà khoa học đã kiểm tra 318 người tình nguyện tham gia nghiên cứu và chọn ngẫu nhiên 184 người trưởng thành không hút thuốc  tại khu vực đô thị Baltimore, Maryland tham gia nghiên cứu.

Yêu cầu:
– Không tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động 1 giờ/ 1 ngày.
– Không uống quá 14 ly bia mỗi tuần
– Không bổ sung vitamin khác trong vòng 2 tháng.

Tiến hành thử nghiệm: Những người tham gia cung cấp dữ liệu cơ bản, bao gồm mẫu máu (được lấy sau khi nhịn ăn12 h) và một số câu hỏi về thức ăn hàng ngày. Người đủ điều kiện được phân ngẫu nhiên 1 trong 4 nhóm sau:

– Nhóm 1: giả dược (dicalcium phosphate 380mg/ngày và dầu đậu tương 500 mg/ngày)

– Nhóm 2: Vitamin C và giả dược (500 mg ascorbate / ngày và dầu đậu tương 500 mg / ngày)

– Nhóm 3: Vitamin E và giả dược (400 IU RRR-Tocopheryl acetate / ngày và dicalcium phosphate 380 mg / ngày)

– Nhóm 4: Vitamin C và vitamin E (500 mg ascorbate / ngày và 400 IU RRR – Tocopheryl acetate / ngày).

Người tham gia được hướng dẫn sử dụng các vitamin C, giả dược mỗi ngày, và không dùng thêm các sản phẩm khác trong thời gian tham gia nghiên cứu.

Phân tích thông kê:

So sánh sự khác nhau giữa nhóm giả dược và vitamin C bằng test –t hoặc test – Wilcoxon cho các biến liên tục và test chi-square cho biến phân loại. Đối với mỗi biến đầu ra, đều phân tích hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của vitamin C đến nồng độ acid uric trong máu. Các nhóm thứ cấp được phân tích hồi quy tuyến tính theo độ tuổi (so với dưới độ tuổi trung bình 62), giới tính, chủng tộc (da trắng so với người Mỹ gốc Phi), chỉ số cân nặng (BMI) (25 so với 25 kg/m2), bệnh mãn tính (so sánh người mắc bệnh hoặc không mắc bệnh cao huyết áp, đái tháo đường, và hoặc cholesterol cao), sử dụng thuốc lợi tiểu (có hay không), tứ phân vị của đường nền nồng độ axit uric ( < 4,2 mg/dl; 4,2-5,0 mg/dl; 5,0 – 6,4 mg/dl; > 6,4 mg/dl), tứ phân vị của nồng độ axit ascorbic (< 52,8 mol/l; 52,8- 61,9 ; 61,9 – 72,7 mol / lít), và tăng acid uric (so sánh với nồng độ acid uric huyết thanh > 7 mg /dl và nhóm < 7mg/dl).

Kết quả nghiên cứu

– Các đối tượng tham gia được theo dõi và có ý thức tuân thủ dùng thuốc và không có sự khác biệt giữa các nhóm. 92% đối tượng hoàn thành 2 tháng nghiên cứu, và 93% đối tượng uống hơn 90% thuốc nghiên cứu.

– Nam giới có nồng độ acid uric cao hơn phụ nữ (Nam giới 5,9 ± 1,2 mg/dl so với nữ giới 4,6 ± 1,4 mg/dl; P< 0,0001). Người có bệnh mãn tính (5,4 ± 1,3 mg/dl) có nồng độ axit uric cao hơn so với người không có bệnh mãn tính (4,7 ± 1,4 mg/dl).

– GFR (mức lọc cầu thận) tăng trong nhóm vitamin C.

– Nồng độ acid uric trong máu giảm đáng kể trong nhóm bổ sung vitamin C nhưng không thay đổi trong nhóm giả dược. Nồng độ acid uric trong máu thay đổi tỷ lệ nghịch với nồng độ acid ascorbic (vitamin C).

Thảo luận và kết luận

Trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát này đã phát hiện rằng: bổ sung vitamin C 500 mg/ngày trong vòng 2 tháng có tác dụng giảm acid uric huyết thanh. Điều này đúng với tất cả các phân nhóm tuổi tác, giới tính, chủng tộc, BMI, bệnh mãn tính, sử dụng thuốc lợi tiểu. Acid uric huyết tương giảm tỷ lệ nghịch với nồng độ ascorbic (Vitamin C) huyết tương. Do đó, vitamin C có lợi trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh gút.

Nguồn: Y Dược 365 (TH)

Print Friendly

Ý kiến bạn đọc

COPYRIGHT © 2009 | 365 Group, VN. All rights reserved | Email: nguoibenhhieubiet@gmail.com |

Scroll to top