Bạn đang ở: Home » Kiến Thức sức khỏe » Nên & Không nên » Có nên phối hợp điều trị cùng lúc đông y và tây y không?

Có nên phối hợp điều trị cùng lúc đông y và tây y không?

Bên cạnh sự phát triển của y học học hiện đại (), y học cổ truyền () cũng không ngừng kế thừa và phát triển, việc sử dụng tân dược () và đông dược () có xu hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, có một câu hỏi không dễ tìm lời giải đáp luôn được đặt ra là: có nên cùng dùng cả hai loại thuốc tây và với nhau hay không? Nếu phối hợp không đúng, sẽ phát sinh các tác dụng phụ, thậm chí có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.

thuoc tay thuoc ta dong y tay y dong tay y ket hop

Có nên phối hợp cùng lúc Đông y và Tây y không?

Hiện nay có hai ý kiến trái ngược với nhau về vấn đề này:

1. Cho rằng hoàn toàn không nên, bởi lẽ lý luận chỉ đạo, đặc tính và cách dùng hai loại thuốc là rất khác nhau, nếu dùng chung sẽ không thể kiểm soát được và dễ xảy ra các tai biến không mong muốn.

2. Cho rằng nên, bởi lẽ phương thức kết hợp sẽ tạo nên tác dụng cộng hưởng và phát huy triệt để thế mạnh của từng loại thuốc.

Kỳ thực, cả hai quan niệm trên đều không tránh khỏi tính chủ quan và phiến diện. Bởi lẽ, câu trả lời chính xác chỉ có thể có được dựa trên kết quả nghiên cứu một cách khoa học và nghiêm túc.

Phối hợp điều trị cùng lúc Đông y và Tây y một cách hợp lý sẽ cho kết quả điều trị tốt

Thực tế đã chứng minh rằng nếu sự phối hợp đó là hợp lý thì có thể nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi điều trị, giảm bớt các tác dụng phụ của mỗi loại thuốc; nếu sự phối hợp đó không hợp lý thì chẳng những công hiệu của dược vật bị hạn chế mà có khi còn làm nặng hơn hoặc phát sinh các tác dụng phụ, thậm chí có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng.

– Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện khá nhiều tân dược và đông dược khi phối hợp với nhau sẽ làm tăng hiệu quả trị liệu.
Ví như, kim ngân hoa phối hợp với Bezyl penicillin có tác dụng ức chế khả năng kháng Penicillin của tụ cầu vàng.

– Các vị thuốc đông y thuộc nhóm thanh nhiệt giải độc như bồ công anh, diếp cá, lô căn, thạch cao, trúc diệp, bản lam căn… phối hợp với Penicillin G có tác dụng nâng cao hiệu quả trị liệu đối với các đợt bùng phát cấp tính của bệnh viêm phế quản mạn tính.

– Những đông dược kiềm tính như bằng sa, ngõa lăng tử khi dùng kết hợp với Oxacillin và Erythromycin có thể ngăn được sự phá huỷ của dịch vị, làm tăng khả năng hấp thu và hiệu lực kháng khuẩn của hai loại kháng sinh này.

– Griseofulvin là một kháng sinh chống nấm thường khó hấp thu và dễ gây ra các phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn, đi lỏng, đau đầu…nếu phối hợp với nhân trần có thể làm tăng độ dung giải, nâng cao hiệu lực sinh học và có thể giảm lượng dùng của Griseofulvin từ 33 – 55%.

– Diphenhydramine (Benadryl) phối hợp với ma hoàng và Clenbuterol phối hợp với dương kim hoa (cà độc dược) đều có tác dụng hiệp đồng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh hen phế quản.

Mặt khác, không ít sự phối hợp giữa thuốc tây và thuốc ta còn có tác dụng mở rộng phạm vi ứng dụng của mỗi loại thuốc.

– Ví như, Aminazine khi phối hợp với bột trân châu không những hiệu quả trị liệu được nâng cao rõ rệt mà còn có thể dùng được cho cả những bệnh nhân chức năng gan bị rối loạn do bột trân châu có khả năng cải thiện hoạt động của tế bào gan và dự phòng các thương tổn gây nên do Aminazine.

– Phức hợp dã cúc hoa – Eutonyl trong chế phẩm “Dã lạc phiến” không chỉ có hiệu năng giảm áp ở người bị huyết áp cao mà còn được mở rộng dùng cho người bị di chứng liệt nửa người do rối loạn tuần hoàn não.

– Dịch tiêm đan sâm và sinh mạch tán (bài thuốc gồm ba vị : nhân sâm, mạch môn và ngũ vị tử) phối hợp với Hyoscyamine không những làm tăng nhịp tim ở người có hội chứng yếu nút xoang (sick sinus syndrome – SSS) mà còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn huyết dịch, cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim, giải quyết cả “ngọn” và “gốc” của vấn đề.

– Một số dược liệu khi phối hợp với thuốc tây còn có khả năng làm giảm thiểu các tác dụng không mong muốn. Ví như, Streptomycin nếu dùng quá dài ngày có thể dẫn đến tình trạng giảm thính lực và chóng mặt do tổn thương hệ thống tiền đình.

– Khi dùng phối hợp với cam thảo các tác dụng phụ này sẽ được giảm thiểu bởi lẽ Glycyrrhizic acid có trong thành phần của cam thảo sẽ kết hợp với gốc kiềm tính của Streptomycin để tạo nên Streptomycin glycyrrhizinate có độc tính thấp hơn nhưng năng lực kháng khuẩn vẫn được giữ nguyên.

– Cyclophosphamide là thuốc chữa ung thư nhưng thường có các tác dụng phụ ở đường tiêu hoá như nôn, buồn nôn, đi lỏng…
Khi dùng kết hợp với bạch cập và hải phiêu tiêu thì các rối loạn này được phòng chống một cách tích cực nhờ vào khả năng chỉ huyết, tiêu thũng và bảo vệ niêm mạc dạ dày và ruột của hai vị thuốc này.

Thập toàn đại bổ là một bài thuốc cổ có tác dụng vừa bổ khí vừa bổ huyết, khi dùng phối hợp với Rifamixin (thuốc kháng lao) sẽ giảm thiểu chứng hạ bạch cầu do thuốc này gây nên, đồng thời nâng cao hiệu lực kháng lao của nó.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng cũng cho thấy: trong nhiều trường hợp sự phối hợp giữa thuốc ta và thuốc tây đã đưa lại những hiệu quả bất lợi.

– Các vị thuốc có chứa nhiều Tanin như đại hoàng, ngô thù du, kim anh tử, kha tử, ngũ bội tử, thạch lựu bì, địa du, biển súc…và các chế phẩm đông dược như Lục vị địa hoàng hoàn, Hoè giác hoàn… không nên hợp dùng với một số kháng sinh như Chloromycetine, Erythromycine, Rifampin, Griseofulvin, Nystatin, Lincomycin, Tetracycline và Vitamin B1 để tránh phản ứng giữa Tanin và các tân dược này tạo nên các sản phẩm kết tủa làm giảm hiệu quả điều trị.

– Có thể làm giảm tác dụng trị liệu của thuốc thông quaviệc ảnh hưởng đến quá trình hấp thu hoặc tương tác làm biến đổi cấu trúc và hoạt tính dược lý. Ví như, các vị thuốc đông y có chứa nhiều ion kim loại như thạch cao, hải phiêu tiêu, thạch quyết minh, hổ cốt, long cốt, mẫu lệ… (chứa nhiều canxi); minh phàn (chứa nhiều bạc); đại giả thạch, đồng tự nhiên (chứa nhiều đồng); xích thạch chi, hoạt thạch (chứa nhiều man-gan và đồng)… không nên dùng cùng một số kháng sinh như Tetracycline, Rimifon… vì sẽ làm giảm hệ số hấp thu, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả trị liệu.

– Các thuốc tây kiềm tính như Aminophylline, Gastropine, Sodium bicarbonate, Aluminum hydroxide… không nên phối hợp với các vị thuốc đông y toan tính như sơn tra, ô mai, sơn thù, ngũ vị tử… và các chế phẩm như Sơn tra hoàn, Bảo hoà hoàn… vì sẽ gây ra phản ứng trung hoà kiềm toan làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc.

– Thêm nữa, một số thuốc tây và thuốc ta khi phối hợp với nhau có thể gây ra các phản ứng độc hại. Ví như, ma hoàng và các chế phẩm có ma hoàng như Đại lạc hoạt đan, Nhân sâm tái tạo hoàn, Chỉ khái định suyễn hoàn… không nên phối hợp với các thuốc có tác dụng ức chế Monoamine oxidase (MAO) như Furazolidone, Eutonyl, Isocarboxazid, Methylhydrazine… vì dễ gây ra các phản ứng phụ nguy hiểm do các chất như Adrenaline, Dopamine, Serotonin không bị phá huỷ, ứ đọng ở các mạt đoạn thần kinh gây nên.

– Các thuốc lợi tiểu như Lasix, Hypothiazid không nên hợp dùng với cam thảo vì Glycyrrhizin và Glycyrrhetinic acid chứa trong cam thảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thận cùng với các thuốc lợi tiểu dễ gây các phản ứng bất lợi do giảm kali máu quá mức…
Các vị thuốc có chứa Alkaloid như ô đầu, hoàng liên, bối mẫu và các thành phẩm như Tiểu hoạt lạc đan, Hương liên hoàn…không nên phối hợp với Atropine, Cafeine và Aminophylline vì dễ gây các phản ứng do trúng độc.

Kết luận:

Như vậy, có thể thấy, tân dược cũng có thể dùng cùng đông dược, thậm chí trong nhiều trường hợp là hết sức cần thiết, nhưng với điều kiện sự phối hợp đó phải hợp lý, có cơ sở khoa học rõ ràng và nghiêm túc, tuyệt đối không phối hợp tuỳ tiện và liều lĩnh.

Nguồn: Y Dược 365 (ST)

Print Friendly

Ý kiến bạn đọc

COPYRIGHT © 2009 | 365 Group, VN. All rights reserved | Email: nguoibenhhieubiet@gmail.com |

Scroll to top