Bạn đang ở: Home » Tìm hiểu bệnh » Cơ xương khớp » Thấp khớp cấp » Nguyên nhân và các giai đoạn bệnh thấp khớp cấp

Nguyên nhân và các giai đoạn bệnh thấp khớp cấp

, hay còn gọi là thấp tim, sốt thấp khớp, phong thấp,… có diễn biến qua nhiều giai đoạn và gây tổn thương trên nhiều cơ quan trong cơ thể. của bệnh được xác định là do liên cầu khuẩn beta nhóm A vùng hầu họng gây ra. Liên cầu khuẩn sau khi xâm nhập vào cơ thể, ngoài việc gây các tổn thương khớp thì có thể gây tổn thương nhiều cơ quan cơ thể như khớp, tim, da, thần kinh,… 

nguyen nhan benh thap khop cap cac gia doan benh thap khop cap

Bàn tay bị biến dạng khớp của bệnh nhân thấp khớp cấp

Những ai có thể mắc bệnh thấp khớp?

Bệnh thấp khớp cấp là căn bệnh phổ biến ở mọi người, và thường xuất hiện ở nữ giới nhiều hơn là ở nam giới.

Bệnh có thể xuất hiện ở tất cả các lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất là trong độ tuổi từ 25-50, và là nguyên nhân hàng đầu của bệnh van tim ở người trẻ tuổi.

Đôi khi, trẻ em cũng bị mắc bệnh thấp khớp. Người ta sử dụng thuật ngữ “phong thấp nhi đồng” (“Juvenile Rheumatoid Arthritis”) để chỉ căn bệnh này ở trẻ em.

Nguyên nhân gây bệnh thấp khớp cấp:

Ngày nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm Liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A đường hô hấp trên (Streptococcus A).

– Năm 1874, Billroth phát hiện và mô  tả về Streptococcus.

– Cho đến nay hầu hết mọi người đều công nhận vai trò của liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A trong bệnh thấp khớp cấp.

– Lớp vỏ của vi khuẩn được chia làm 3 lớp: lớp ngoài cùng là lớp protein; lớp giữa là  lớp carbonhydrat; lớp trong là mucopeptite protoplat. Lớp protein chứa những protein được xác định là M, T và R. Protein M là quan trọng nhất, nó giúp cho phân loại vi khuẩn và xác định độc lực của vi khuẩn.

– Những bằng chứng về sự liên quan giữa liên cầu khuẩn  tan máu β nhóm A với thấp khớp cấp là thường có đợt viêm nhiễm đường hô hấp trên, trước đó khoảng 3- 4 tuần. Nhưng cũng có nhiều trường hợp khi đã có biểu hiện rõ của bệnh thấp khớp cấp mà không thấy rõ triệu chứng nhiễm liên cầu khuẩn trước đó.

– Kết quả điều trị dự phòng chống nhiễm liên cầu khuẩn đã làm giảm rõ rệt tỷ lệ bệnh thấp khớp cấp. Vai trò của sulfadiazin, penixilin, erythromycin đã được đánh giá tốt trong điều trị dự phòng và làm giảm mức độ tái phát của bệnh. Ví dụ: ở Mỹ, điều tra tỷ lệ bệnh nhân có viêm cơ tim khi có nhiễm liên cầu khuẩn lần đầu tiên đã giảm rõ rệt khi có điều trị dự phòng.Mayer và cộng sự thấy tỉ lệ mắc bệnh từ 46,5% (1925-1942) giảm xuống còn 38,4% (1951- 1958). Massell và  cộng sự thấy tỉ lệ mắc bệnh từ 85% (1921-1930) giảm xuống còn 55% (1951- 1960).

– Định lượng  kháng thể kháng streptolysin O (ASLO) thường  dương  tính ở những người  có nhiễm liên cầu khuẩn. Nó có giá trị chẩn đoán và điều  trị dự phòng. Tỉ lệ dương tính thường đạt từ 70%-85%.Nếu kết hợp định  lượng  thêm các kháng thể khác như:  antistreptokinase, antihyaluronidase, antiphospho-pyritine nucleotidase, anti-DNAseB thì tỷ lệ chẩn  đoán có thể cao hơn tới 95%. Nên nhớ là hiệu giá kháng thể này đạt cao nhất từ tuần thứ 3-5 sau nhiễm liên cầu khuẩn và trở về bình thường sau 2- 4 tháng.

– Về cơ chế bệnh sinh của thấp khớp cấp: đến nay đã có bằng chứng về sự có mặt của liên cầu khuẩn gây ra bệnh cảnh thấp khớp cấp là rõ rệt, nhưng việc giải thích mối liên quan đó như thế nào vẫn chưa thực sự sáng tỏ. Hầu hết các tác giả giải thích theo cơ chế miễn dịch dị ứng, có thể lớp vỏ liên cầu khuẩn và tổ chức liên kết cơ tim của cơ thể có cấu trúc kháng nguyên chung, cho nên các kháng thể kháng liên cầu khuẩn thì  “đánh” luôn cả vào cơ tim. Kháng nguyên gây nên phản ứng chéo được cho là do protein M của liên cầu khuẩn. Halpern đã phát hiện thấy sự giống nhau về miễn dịch học giữa một polysaccarit ở thân liên cầu khuẩn với một glucoprotein ở van tim, sụn khớp, động mạch chủ và da.

– Cũng có giả thuyết cho rằng có sự tác dụng độc trực tiếp của độc tố liên cầu khuẩn vào cơ tim, làm cho cơ tim biến đổi thành tự kháng nguyên và cơ thể sinh ra tự kháng thể. Phản ứng giữa tự kháng nguyên với tự kháng thể sẽ gây ra bệnh lý tổn thương cho cơ tim, màng trong tim, màng ngoài tim .v.v..Người ta đã tìm thấy kháng thể kháng tim với một tỷ lệ nhất định (khoảng  75% theo Friedberg, 1966) ở những người có mắc liên cầu khuẩn, nhưng cũng tìm thấy kháng thể này ở một số bệnh nhân không phải mắc liên cầu khuẩn như: nhồi máu cơ tim, …, nên xét nghiệm này không đặc hiệu.

Điều kiện phát sinh bệnh thấp khớp cấp:

– Những yếu tố thuận lợi cho nhiễm liên cầu khuẩn thường gặp là điều  kiện sống khó khăn (khí hậu, sinh hoạt, sức đề kháng). Vì vậy, người ta cho đây là bệnh của các nước kém phát triển.

– Tuổi: thường gặp ở tuổi trẻ 5-15 tuổi, ít  gặp ở người dưới 5 tuổi, cũng ít gặp ở người trên 25 tuổi.

– Giới: nữ gặp tổn thương van hai lá nhiều hơn nam giới. Ngược lại, nam giới tổn thương van động mạch chủ do thấp khớp cấp lại cao hơn nữ.

– Có ý kiến đề cập tới vấn đề di truyền vì có gia đình có nhiều người cùng bị thấp khớp cấp, nhưng điều này chưa được chứng minh đầy đủ. Có thể do các thành viên trong gia đình sống trong cùng một môi trường thuận lợi cho nhiễm liên cầu khuẩn.

bệnh thấp khớp cấp

Thấp khớp cấp là bệnh của tổ chức liên kết; tổn thương xảy ra ở nhiều cơ quan khác nhau, trong đó các cơ quan đáng chú ý là tim, não, mạch máu, khớp, phổi, thận. Tổn thương giải phẫu bệnh diễn biến qua các giai đoạn sau:

– Giai đoạn phù niêm:

Là giai đoạn sớm nhất, còn nhẹ, có thể hồi phục tốt. Tổn thương chủ yếu là sự thâm nhiễm các tế bào viêm không đặc hiệu ở phức hệ collagen của tổ chức liên kết.

– Giai đoạn biến đổi dạng fibrin.

Có tổn  thương  nội mạc mạch máu, làm  tăng tính thấm, gây thoát protein huyết tương và fibrinogen ra tổ chức gian bào. Đáng chú ý của giai đoạn này là dạng hoại tử fibrin của chất tạo keo; có đặc điểm viêm xuất tiết và thâm nhiễm các bạch cầu đa nhân, tế bào lympho và tương bào…

– Giai đoạn tăng sinh khu trú hoặc tăng sinh lan toả tế bào tổ chức liên kết:

Hạt Aschoff (tổn thương khu trú) gồm:

– Trung tâm là hoại tử dạng fibrin.

– Xung quanh vùng hoại tử là tăng  sinh các tế bào liên kết.

– Ngoài cùng là các tế bào lympho, tương bào, bạch cầu đa nhân và tế bào sợi. Hạt Aschoff thường gặp ở cơ tim, các mạch  máu và màng  hoạt dịch  khớp; ở ngoài da nó tạo nên hạt Meynet.

– Giai đoạn xơ – sẹo:

Các tiểu thể Aschoff tiêu dần đi thay thế bằng  quá trình xơ-sẹo tiến triển kéo dài  để lại tổn thương co kéo xơ hoá ở tổ chức, đáng chú ý là màng  trong tim, làm tổn thương lá van, tạo ra bệnh van tim sau này.

Kết kuận:

Bệnh thấp khớp cấp là một bệnh nguy hiểm, cần được chẩn đoán xác định sớm để có điều trị chống liên cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp, ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn thương vĩnh viễn ở tim, van tim. Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ liều lượng. Với những người đã bị bệnh thì ngoài việc điều trị chống liên cầu khuẩn huyết nhóm A thì cần có chế độ tập luyện, vận động để tránh cứng khớp, dính khớp, mất khả năng vận động.

Nguồn: Y Dược 365 (TH)

Print Friendly

Ý kiến bạn đọc

COPYRIGHT © 2009 | 365 Group, VN. All rights reserved | Email: nguoibenhhieubiet@gmail.com |

Scroll to top